Trang  tin  điện  tử  Công  báo  Khánh  Hòa
Hỗ trợ trực tuyến

Báo cáo số 172/BC-UBND ngày 01/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về tình hình thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2011.

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

image001.gif

Số 172/BC-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

image001.gif

Nha Trang, ngày 01 tháng 12 năm 2010

 

BÁO CÁO

Tình hình thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh
về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2010
và phương hướng, nhiệm vụ năm 2011

image001.gif

 

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM  2010

Năm 2010 là năm cuối cùng của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010; năm có nhiều sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa lớn của đất nước, tạo nhiều thời cơ cho các cấp các ngành phát động phong trào thi đua yêu nước sâu rộng đều khắp đến đông đảo người dân, các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nhằm mục tiêu hoàn thành xuất sắc kế hoạch năm 2010 và kế hoạch 5 năm 2006-2010.

Tuy nhiên, năm 2010 cũng là năm có nhiều khó khăn thách thức; do tác động của hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, giá vàng, giá USD tăng cao dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng cả năm tăng trên 10%, ngân hàng buộc phải duy trì lãi suất cho vay trên 12%/năm, kinh tế cả nước phục hồi chậm. Trong khi đó hạn hán kéo dài, điện cung ứng thiếu cũng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và du lịch. Tại tỉnh còn có thêm dịch tai heo xanh bùng phát từ tháng 8/2010 đến tháng 11/2010, dịch sốt xuất huyết ở người kéo dài với hơn 6.000 ca mắc, những ngày cuối tháng 10 đầu tháng 11 lại bị lũ lụt khiến nhiều cơ sở hạ tầng cầu, đường, nhà bị phá hủy, hàng trăm ha rau màu bị mất trắng.

Trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen đó; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã nắm vững và triển khai Nghị quyết 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về những giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010; Nghị Quyết 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5%; tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, đề ra nhiều biện pháp, chính sách đồng bộ từng bước đưa kinh tế - xã hội của tỉnh đạt được những kết quả khả quan trong năm 2010.

1. Về tốc độ tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tốc độ tăng trưởng (GDP) ước tăng 11% (Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh là 12%); trong đó giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ước tăng 15% (riêng giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 10%), giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản ước tăng 2,3%; giá trị dịch vụ ước tăng 16%.

GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.480 USD. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.758 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2009.

Kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo cơ cấu dịch vụ - du lịch 44,19%, công nghiệp - xây dựng 42,23%, nông - lâm - thuỷ sản 13,58%.

2. Về phát triển các ngành và lĩnh vực chủ yếu

2.1. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển trên cơ sở sự phục hồi của nền kinh tế; giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) ước cả năm đạt 15.398 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2009 (không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra năm 2010 tăng 12%). Trong đó công nghiệp Trung ương giảm 20,5%; công nghiệp nhà nước địa phương tăng 12%; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,8% và công nghiệp ngoài nhà nước tăng 7,8%. Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá như: nước yến, bia các loại, nước khoáng, dây khóa kéo, cát xuất khẩu, sợi các loại. Bên cạnh đó có một số sản phẩm tăng chậm như thủy sản đông lạnh, xi măng, gạch ngói.

Sản xuất công nghiệp không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 chủ yếu do tác động không thuận lợi của hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thành phần kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn, thiếu nguyên liệu nên đã giảm mức sản xuất, Công ty công nghiệp tàu thủy Nha Trang không được cấp đủ vốn nên sản xuất giảm trên 50%, công nghiệp toàn tỉnh chưa có năng lực sản xuất mới được đưa vào hoạt động.

2.2. Về sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng ổn định, diện tích gieo trồng đạt khá, năng suất cây trồng được mùa và hạn chế được dịch bệnh trên địa bàn. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (giá cố định năm 2009) ước cả năm đạt 2.738 tỷ đồng, tăng 2,3% so với năm 2009.

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 82.759 ha, bằng 99,22% kế hoạch, tăng 0,36% so năm trước. Để đối phó với nắng hạn kéo dài, sau khi kết thúc thắng lợi vụ lúa đông xuân với diện tích 19.506 ha, năng suất 58,4 tạ/ha, sản lượng 113.917 tấn, toàn tỉnh đã chủ động giảm diện tích lúa hè thu xuống còn 17.417 ha để đảm bảo năng suất lúa 53,22 tạ/ha, sản lượng 92.698 tấn. Các cây trồng chủ lực như mía, sắn tăng diện tích sản lượng so với năm trước.

Chăn nuôi gia súc gia cầm gặp khó khăn do tác động của dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng và dịch lợn tai xanh. Tháng 3/2010 bùng phát dịch cúm gia cầm tại hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa, từ tháng 8/2010 đến tháng 11/2010 dịch tai xanh ở lợn lan ra 79 xã của 7/8 huyện buộc phải tiêu hủy trên 12.000 con, bệnh lở mồm long móng làm 276 con bò mắc bệnh. Sau tháng 11 chăn nuôi gia súc gia cầm đã trở lại bình thường.

Các doanh nghiệp nhà nước địa phương ngành lâm nghiệp đã khai thác được 14.000 m3 gỗ tròn các loại bằng kế hoạch đề ra; trồng rừng 2.112 ha gấp 2,4 lần so năm 2009. Do tăng cường công tác kiểm tra nên số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng được phát hiện giảm so năm trước.

Ước tính năm 2010, đánh bắt thủy sản được 76.391 tấn thủy sản, bằng 103,2% kế hoạch; khai thác yến sào được 3.094 kg bằng 114,6% kế hoạch, nhưng thu hoạch tôm và sản xuất tôm giống chưa bằng mức năm 2009.

2.3.  Về thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu

Các ngành dịch vụ đã có nhiều bước chuyển biến tích cực và tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao. Ước giá trị sản xuất dịch vụ năm 2010 tăng 15,3% so năm 2009.

Hoạt động thương mại ở địa phương phát triển sôi động và tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước cả năm đạt 29.500 tỷ đồng, bằng 113,5% kế hoạch và tăng 26,1% so năm 2009.

Hoạt động du lịch ở địa phương đã đón được 15 chuyến tàu du lịch biển với 16 nghìn khách, nâng số lược khách tham quan lên trên 5.600 người. Toàn tỉnh đã có 454 cơ sở lưu trú với 11.730 phòng, trong đó có khách sạn 5 sao Sheraton với 284 phòng mới đi vào hoạt động; năm 2010 đón 1.840 nghìn lượt khách với 4 triệu ngày khách lưu trú, trong đó có 390 nghìn lượt khách quốc tế và 850 nghìn ngày khách quốc tế, doanh thu 1.780 tỷ đồng đều hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 và tăng từ 13,9% đến 17,4% so với năm 2009.

Dịch vụ vận tải đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống nhân dân; dịch vụ bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin có tốc độ tăng trưởng nhanh và các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tiếp tục phát triển.

Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 695 triệu USD, bằng 116% kế hoạch và tăng 21,3% so với năm 2009. Xuất khẩu hàng hóa đã đi đến 80 quốc gia, vùng lãnh thổ với một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như: tàu biển đóng mới, thủy sản, cát, hạt điều, hàng dệt may, thủ công mỹ nghệ.

Kim ngạch nhập khẩu ước cả năm đạt 380 triệu USD bằng 117% kế hoạch và tăng 14,8% so với năm 2009; trong đó địa phương quản lý ước đạt 370 triệu USD, tăng 15,3%. Nhập khẩu hàng hóa từ 58 quốc gia với chủ yếu là nguyên phụ liệu thuốc lá, máy móc thiết bị, thép đóng tàu, thức ăn nuôi tôm và hải sản nguyên liệu. Công ty TNHH tàu biển Hyundai VinaShin đã xuất khẩu 5 tàu biển góp phần lớn vào việc hoàn thành chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của tỉnh.

Chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường từ đầu năm đến nay liên tiếp tăng (riêng tháng 4 giảm 0,21% so tháng 3). Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2010 so với tháng trước là 1,69%, so với tháng 12 năm 2009 là 9,96%; ước chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2010 so với tháng 12 năm 2009 là 10,76%. 

2.4. Về đầu tư - xây dựng

Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 15.524 tỷ đồng, tăng 34,8% so với năm 2009; trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước thực hiện 1.150 tỷ đồng tăng gấp 2 lần so với năm 2009.

Ước thực hiện giải ngân từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đạt 2.234 tỷ đồng, bằng 97% kế hoạch; ước khối lượng thực hiện khoảng 2.879/2.303 tỷ đồng, bằng 125% kế hoạch.

Năm 2010 nhiều công trình thuộc các nguồn vốn khác nhau khởi công như: Khu du lịch sinh thái biển Hòn Ngang - Bãi Cát Thấm, công trình Hồ chứa nước Tà Rục có dung tích 20,6 triệu m3, đường Diên Khánh - Khánh Vĩnh, Khu tái định cư đường hầm Đèo Cả,....

Năm 2010 đã cấp giấy chứng nhận đầu tư FDI trên địa bàn tỉnh cho 03 dự án. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 71 dự án đầu tư FDI (trong đó: ngoài KCN/KKT 34 dự án, Khu công nghiệp Suối Dầu 19 dự án, Khu kinh tế Vân Phong 18 dự án), với tổng vốn đăng ký khoảng 791,6 triệu USD. Đầu tư trong nước ước thực hiện đăng ký kinh doanh cho 773 doanh nghiệp hoạt trên địa bàn với vốn đăng ký 3.503,29 tỷ đồng. Đến hết năm 2010 ước có khoảng 5.800 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.

2.5.  Tài chính - ngân sách

Thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 ước đạt khoảng 7.758 tỷ đồng, vượt 26% dự toán trung ương, 13% dự toán địa phương và tăng 18% so với năm 2009, trong đó thu xuất nhập khẩu ước đạt 2.682 tỷ đồng, tăng 24%; thu nội địa ước đạt 4.843 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2009; thu ngoài cân đối ước đạt 233 tỷ đồng, bằng thực hiện năm 2009.

Chi ngân sách nhà nước địa phương ước 5.502 tỷ đồng, tăng 37% so dự toán; trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 2.563 tỷ đồng, tăng 51%; chi thường xuyên ước đạt 2.415 tỷ đồng, tăng 21%.

Năm 2010, tổng nguồn vốn huy động tăng trưởng khá, ước đạt khoảng 19.700 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 25,6%; tổng dư nợ cho vay ước đạt 17.980 tỷ đồng, tăng 15,12% so với đầu năm, trong đó cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 15.770 tỷ đồng. Cho vay các đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết 18 của Chính phủ tăng trưởng đều cao hơn mức tăng trưởng chung: cho vay phục vụ xuất khẩu đạt 2.030 tỷ đồng, tăng 16,8%; cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn 3.780 tỷ đồng, tăng 17%; cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa 6.570 tỷ đồng, tăng 16,7%; cho vay các đối tượng chính sách (tại Ngân hàng Chính sách xã hội) 1.120 tỷ đồng, tăng 21,6%. Dư nợ cho vay trung và dài hạn được hỗ trợ lãi suất là 826,8 tỷ đồng.

2.6. Về văn hoá - xã hội

- Về giáo dục - đào tạo: Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ được giữ vững ở 137/137 xã, phường, thị trấn; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi 8/8 huyện, thị xã, thành phố (125/137 xã, phường, thị trấn). Phổ cập giáo dục trung học cơ sở được duy trì ở 8/8 huyện, thị xã, thành phố (132/137 xã, phường); Công tác phổ cập giáo dục trung học tiếp tục được triển khai nhưng còn nhiều khó khăn do học sinh bỏ học nhiều, chất lượng giáo dục thấp, hiệu quả kém nên chưa có địa phương nào đạt chuẩn theo quy định. Mạng lưới trường học trên địa bàn phát triển phù hợp với sự phát triển cơ sở hạ tầng của các vùng dân cư trong tỉnh.

Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ 97,99%, cao hơn trung bình chung của cả nước (92,57%), có 10 trường tỷ lệ đỗ 100%. Kết quả tuyển sinh đại học năm 2010, có 3 trường trung học phổ thông nằm trong tốp 200 trường trung học phổ thông có điểm trung bình các môn thi tuyển sinh đại học 2010 cao nhất nước. Tuy nhiên, kết quả thi vào đại học chung trên địa bàn của tỉnh năm 2010 đạt kết quả thấp hơn năm trước, giảm 11 bậc (32/21).

- Về y tế: tăng cường thanh tra, kiểm tra về an toàn vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm gây dịch, đặc biệt cúm A (H1N1, H5N1), dịch sốt xuất huyết. Ước năm 2010 đã khám chữa bệnh cho 3.786 nghìn lượt người; điều trị nội trú 160 nghìn người giảm từ 2,75% đến 6,03% so với năm 2009. Tiếp tục triển khai thực hiện về khám chữa bệnh cho người nghèo; triển khai thanh toán khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi. Chương trình mục tiêu y tế quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội nguy hiểm và HIV/AIDS đều thực hiện tốt; Chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Chương trình chống suy dinh dưỡng trẻ em đạt kết quả khả quan. Đưa vào sử dụng một bệnh viện quân dân y, thành lập bệnh viện sản nhi và bệnh viện ung bướu.

Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển; từng bước điều động y bác sỹ về phục vụ tại trạm y tế xã, phường; đầu tư những thiết bị y tế cơ bản hiện đại cho các bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện tuyến huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế theo quy định chuẩn của Bộ Y tế.

- Về Văn hóa - thể thao: tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị trong năm 2010. Tổ chức thành công cuộc thi Hoa Hậu thế giới người Việt, cuộc thi Hoa hậu Trái đất. Ngoài ra, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao được tổ chức liên tục đều khắp đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Thành phố Nha Trang đã được đề nghị Chính phủ quyết định là thành phố tổ chức sự kiện.

Trung tâm điện ảnh đã tổ chức 2.084 buổi chiếu phim phục vụ đồng bào với 367 nghìn lượt người xem, doanh thu đạt gần 2 tỷ đồng. Các đoàn nghệ thuật biễu diễn 198 buổi với 210 nghìn lượt người xem.

Thể thao thành tích cao thi đấu ở nhiều giải trong và ngoài nước đạt được 208 huy chương các loại (41 vàng, 60 bạc, 107 đồng), 31 kiện tướng, 52 vận động viên cấp I. Thể thao phong trào tiếp tục được củng cố, phát triển. Toàn tỉnh có 398 câu lạc bộ thể thao đang hoạt động; số gia đình, số người thường xuyên tập luyện thể thao đạt 25% dân số.

- Về lao động - thương binh và xã hội: thực hiện nhiều chính sách và giải pháp đồng bộ nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi, xóa đói giảm nghèo, nhờ đó nhận thức của đồng bào từng bước được nâng lên, nhiều hộ đã cố gắng vươn lên thoát nghèo.

Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ, cứu đói được các ngành các cấp quan tâm; công tác hỗ trợ xây dựng sửa chữa nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết cho các đối tượng thuộc gia đình chính sách, hộ nghèo được đẩy mạnh.

Công tác giải quyết việc làm trong năm 2010 có nhiều thuận lợi, ước thực hiện cả năm toàn tỉnh tạo việc làm cho khoảng 25.500 lao động, đạt 102% kế hoạch năm. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề ước đạt 35% bằng chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Xuất khẩu lao động dự kiến đến cuối năm 2010 có khoảng 375 người tham gia làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đạt 104% kế hoạch.

2.7. Công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền, nâng cấp đô thị

Tổ chức tổng kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010, phương hướng nhiệm vụ, giai đoạn 2011-2020. Tập trung thống kê, rà soát hoàn thiện các thủ tục hành chính theo đề án 30 của Chính phủ. Toàn tỉnh đã rà soát 1.550 thủ tục hành chính, 1.140 mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, 1.352 yêu cầu, điều kiện của 602 thủ tục hành chính. Qua rà soát đã kiến nghị bãi bỏ 93 thủ tục hành chính, sửa đổi 822 thủ tục hành chính, thay thế 17 thủ tục hành chính. Tổng số thủ tục hành chính có kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi, thay thế là 931 thủ tục, đạt tỷ lệ 60,06% tổng số thủ tục hiện.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh có những bước tiến bộ, góp phần thúc đẩy công tác cải cách hành chính, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Kiện toàn cơ cấu tổ chức bên trong của các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh. Hoàn thành chuyển đổi và bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước thành Công ty TNHH một thành viên.

Trong năm 2010, tốc độ đô thị hóa có bước phát triển nhanh, diện mạo đô thị văn minh, hiện đại ngày càng định hình rõ nét, dân số sống trong đô thị đạt tỷ lệ 44,5%. Xây dựng các đồ án quy hoạch đô thị tại các địa phương; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, viễn thông, vệ sinh môi trường,… cùng với các dự án xây dựng các khu dân cư, khu đô thị mới tạo cơ sở ban đầu cho việc nâng cấp và mở rộng hệ thống đô thị trong tỉnh. Bên cạnh thành phố Nha Trang đã được công nhận là đô thị loại I, thị xã Cam Ranh là đô thị loại III và đang trình Chính phủ thành lập thành phố; thị trấn Ninh Hòa, thị trấn Diên Khánh, thị trấn Vạn Giã là đô thị loại IV; tập trung nâng cấp đô thị ở các địa phương để tiếp tục công nhận đô thị loại 5 cho một số xã. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 25/10/2010 về việc thành lập thị xã Ninh Hòa và thành lập các phường thuộc thị xã Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa.

2.8. Về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng

Toàn tỉnh triển khai 82 cuộc thanh tra kinh tế xã hội tại 193 đơn vị và 411 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành tại 8.685 tổ chức, đơn vị, cơ sở. Qua thanh tra đã phát hiện 4.475 đơn vị, tổ chức, cơ sở có hành vi vi phạm trên các lĩnh vực (trong đó lĩnh vực thanh tra kinh tế xã hội 51 đơn vị vi phạm, thanh tra chuyên ngành có 4.424 đơn vị vi phạm); trong đó sai phạm về kinh tế 20.187 triệu đồng. Thanh tra tỉnh phát hiện sai phạm 15.583 triệu đồng, đã kiến nghị thu hồi nộp ngân sách 14.948 triệu đồng, ban hành quyết định thu hồi 12.993 triệu đồng, đã thu hồi 4.837 triệu đồng.

Các cơ quan hành chính trong tỉnh đã tiếp 2.621 lượt công dân, giảm 15% (2621/3092) so với năm 2009. Trong đó Phòng Tiếp công dân tỉnh tiếp 610 lượt, giảm 28% so với năm 2009. Các đồng chí lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đã tiếp và đối thoại với 34 trường hợp, tăng 41% (34/20) so năm với 2009.

Tổng số vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp phát sinh năm 2010 thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính là 850 vụ (493 khiếu nại, 153 tố cáo, 204 tranh chấp), trong đó có 90 vụ (58 khiếu nại, 17 tố cáo, 15 tranh chấp) năm 2009 chưa giải quyết chuyển sang. Đã xem xét giải quyết 792/850 vụ (455 khiếu nại, 146 tố cáo, 191 tranh chấp) đạt 93,18%. Qua giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo đã kiến nghị khôi phục quyền lợi nhân dân 344 triệu đồng và 63,8 m2 đất; hủy 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định, thu hồi nộp ngân sách nhà nước 21,4 triệu đồng; kiểm điểm rút kinh nghiệm 11 cán bộ.

Năm 2010 các cấp hành chính của tỉnh nhận 3.760 đơn thư kiến nghị, phản ánh; trong đó có 2056 kiến nghị, phản ảnh thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính các cấp. Đã xem xét giải quyết 1867/2056 kiến nghị đạt 91%.

2.9. Về quốc phòng - an ninh 

Các lực lượng vũ trang của tỉnh triển khai công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong các dịp lễ, tết, trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn trên địa bàn tỉnh; hoàn thành công tác tuyển quân, giao quân năm 2010; hoàn thành tốt chỉ tiêu bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng. Tỷ lệ động viên trong dân quân tự vệ đạt 1,63% dân số.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững, phạm pháp hình sự giảm 12,2% so với cùng kỳ năm 2009 (576/656 vụ), đã điều tra làm rõ 406/576 vụ, đạt tỷ lệ 70,3%, trong đó án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng điều tra làm rõ 56/58 vụ, đạt tỷ lệ 96,55%.

Về trật tự, an toàn giao thông: xảy ra 166 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 185 người, bị thương 29 người (so với năm 2009 số vụ giảm 10 vụ (166/176), số người chết giảm 13 người (185/198), số người bị thương không tăng, không giảm (29/29). Về trật tự an toàn giao thông, xử phạt hành chính 36.723 trường hợp với số tiền 13,57 tỷ đồng, tước giấy phép lái xe 831 trường hợp.

Xảy ra 27 vụ cháy tập trung ở địa bàn thành phố, thị xã chiếm 81,48%, làm chết 01 người, bị thương 02 người, thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 2,5 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2009 số vụ cháy giảm 01 vụ, tài sản thiệt hại giảm 1,5 tỷ đồng.

Đánh giá chung

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, sự nỗ lực và đồng thuận của nhân dân, mặc dù gặp nhiều khó khăn do tác động suy giảm kinh tế thế giới, dịch bệnh, mưa lũ nhưng tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2010 vẫn tiếp tục chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng của tỉnh tăng cao và ổn định, lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục phát triển; công tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh; việc công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng được thực hiện nghiêm túc; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo có nhiều tiến bộ tích cực; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Trong chỉ đạo, điều hành; Ủy ban nhân dân tỉnh đã bám sát, chỉ đạo triển khai kịp thời, quyết liệt và có hiệu quả các chủ trương, chính sách và giải pháp của Chính phủ; các nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời chủ động đề ra các chính sách, giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thẩm định các hồ sơ đầu tư, xây dựng cơ bản, đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai, thực hiện chỉ định thầu đối với các dự án, công trình cấp bách theo quy định của Chính phủ nên công tác đầu tư xây dựng cơ bản có đạt khá hơn so với năm trước. 

Bên cạnh kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh còn một số tồn tại cần quan tâm khắc phục: phát triển công nghiệp chưa đạt kế hoạch đề ra; tốc độ thực hiện để đưa vào sản xuất, kinh doanh của các dự án lớn trên địa bàn tỉnh còn chậm; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, điều kiện tự nhiên của tỉnh; việc thực hiện chủ trương xã hội hoá trên một số lĩnh vực xã hội chậm; công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch thực hiện chưa tốt, tình trạng xây dựng trên đất chưa chuyển mục đích sử dụng, xây dựng công trình không phép, trái phép còn khá phổ biến. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị chưa đạt kế hoạch đã đề ra.

II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2011

1. Những thuận lợi và khó khăn trong năm 2011

Năm 2011 là năm đầu tiên của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 được thực hiện trong bối cảnh kinh tế thế giới biến đổi nhanh, phức tạp và khó lường. Kinh tế thế giới đang trong quá trình hồi phục, tuy nhiên hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ tiếp tục ảnh hưởng với mức độ khác nhau đối với từng khu vực, từng quốc gia.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua, các nước đều chuyển hướng vào thị trường nội địa, nhiều biện pháp bảo hộ mậu dịch công khai hoặc không công khai đã được áp dụng có thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình tự do hóa thương mại. Với sự phục hồi kinh tế, giá cả trên thị trường thế giới sẽ tăng cao trong thời gian tới. Tình hình này đi đôi với tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng diễn ra ở hầu hết các quốc gia do các gói kích thích kinh tế khổng lồ được tung ra gần đây có thể sẽ dẫn tới tình trạng lạm phát cao trên toàn cầu, nếu không có các biện pháp kiểm soát đủ mạnh.

Xu thế hội nhập và mở cửa được dự báo vẫn sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng. Hệ thống tài chính ngân hàng sẽ được cơ cấu lại theo hướng chịu sự quản lý và giám sát bởi những quy định chặt chẽ hơn và vì vậy bớt sôi động nhưng cân bằng và an toàn hơn; sự can thiệt của chính phủ các nước và các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế vào hoạt động của thị trường tài chính và các định chế trung gian tài chính sẽ được tăng cường mạnh hơn.

Tuy nhiên, những yếu tố yếu kém của nền kinh tế và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu chắc chắn vẫn còn tác động đến sự phát triển của đất nước trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011-2015. Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá quyết liệt, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thiên tai, dịch bệnh đang diễn biến rất phức tạp; tình trạng biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng tác động ngày càng tiêu cực đến sản xuất, đời sống nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Khả năng hội nhập của nền kinh tế, của doanh nghiệp và các sản phẩm còn yếu, quy mô sản xuất nhỏ bé, chi phí sản xuất cao (nhiều chi phí ngoài phạm vi điều chỉnh của doanh nghiệp như điện, nước, xăng dầu...); tính hiệu quả và sức cạnh tranh trong từng ngành, từng sản phẩm còn thấp. Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể có những diển biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.

Công tác xoá đói, giảm nghèo chưa vững chắc, đời sống nhân dân các vùng miền núi còn nhiều khó khăn. Mấy năm qua cơ sở hạ tầng của các vùng khó khăn được cải thiện đáng kể qua kết quả đầu tư các chương trình 134, 135, CBRIB, kinh tế xã hội miền núi…; tuy nhiên so với yêu cầu thực tế để giải quyết căn bản tình trạng đói nghèo và tái nghèo còn rất thấp. Kinh phí đầu tư công tác xoá đói, giảm nghèo tập trung giải quyết trước mắt còn quá lớn.

Cải cách hành chính còn chậm; chất lượng cán bộ đáp ứng cho nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội của tỉnh còn rất thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch năm 2011

2.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của năm 2011 là nỗ lực phấn đấu thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tiếp tục đà tăng trưởng của nền kinh tế trên cơ sở tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Tiếp tục cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội.

2.2. Nhiệm vụ chủ yếu

2.2.1. Về kinh tế

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp; tạo các điều kiện cần thiết để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo.

Nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của sản xuất công nghiệp, phấn đấu giảm chi phí sản xuất, đổi mới công nghệ, đứng vững và phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất kinh doanh.

Tạo điều kiện phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, giảm chi phí và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ và du lịch. Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động thương mại trong tỉnh. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu, củng cố thị trường truyền thống và phát triển, mở rộng xuất khẩu sang thị trường mới.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thuỷ sản nhằm phát triển sản xuất, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân. Duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của khu vực nông, lâm, thuỷ sản. Ưu tiên các giải pháp đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân có tích lũy từ sản xuất nông nghiệp.

Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, tăng cường xuất khẩu dịch vụ. Phát triển và đa dạng hóa các ngành và sản phẩm dịch vụ. Mở rộng mạng lưới dịch vụ trong nông thôn, xây dựng các chợ đầu mối huyện, xã, phường nhằm tạo điều kiện cho người sản xuất giao lưu buôn bán. Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ ở khu vực tư nhân, các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

Xây dựng và triển khai có hiệu quả các Chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm của tỉnh giai đoạn 2011-2015 theo Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 2 nhằm tổ chức thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra.

Thu hút mạnh hơn vốn đầu tư của khu vực dân doanh và vốn đầu tư nước ngoài, huy động nhiều nguồn vốn đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn dưới Luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Tập trung tháo gỡ các khó khăn nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư của nhà nước.

2.2.2. Về xã hội

Tiếp tục phát triển nhanh nguồn nhân lực, triển khai thực hiện các biện pháp đồng bộ để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho quá trình phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phát triển khoa học, công nghệ theo hướng toàn diện trên các lĩnh vực về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ, dặc biệt là công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới.

Đa dạng hóa các dịch vụ bưu chính viễn thông, internet đáp ứng nhu cầu sử dụng xã hội, góp phần phục vụ công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ an ninh quốc phòng.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước gắn liền với áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 phục vụ chương trình cải cách hành chính của tỉnh.

Bổ sung, điều chỉnh các chính sách để thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế đầu tư cho công tác xã hội hóa các lĩnh vực.

Kiểm soát tốc độ tăng dân số. Thực hiện các chính sách đẩy mạnh tạo việc làm mới; phát triển hệ thống dạy nghề; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc; đặc biệt là tình trạng tội phạm, ma tuý, tai nạn giao thông.

2.2.3. Về môi trường

Giảm ô nhiểm môi trường, khắc phục và cải thiện chất lượng môi trường; giải quyết cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở khu vực các nhà máy, các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc.

Sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi trường ở các lưu vực sông, bảo đảm cân bằng sinh thái, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về môi trường; coi giữ gìn và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội.

2.2.4. Triển khai tốt chương trình hành động chống tham nhũng đi đôi với cuộc vận động toàn dân, các cấp, các ngành, các đoàn thể tham gia cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

2.2.5. Đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính, nâng cao đạo đức và năng lực đội ngũ cán bộ công chức. Tăng cường tính công khai minh bạch và công bằng của các chính sách và qui định pháp lý của các cấp; củng cố lòng tin đối với bộ máy quản lý nhà nước các cấp.

2.2.6. Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

3. Các chỉ tiêu chủ yếu: (so với ước thực hiện năm 2010)

a) Các chỉ tiêu về kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): tăng  12%.

- GDP bình quân đầu người tương đương: 1.780 - 1.800 USD.

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng: tăng 17%.

Trong đó: Giá trị sản xuất công nghiệp:  tăng 13,5%.

- Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp: tăng 4,0%.

- Giá trị dịch vụ - du lịch: tăng 15%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu: 800 triệu USD - tăng 15%.

- Tổng kim ngạch nhập khẩu: 450 triệu USD - tăng 18%.

- Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội: 19.500 tỷ đồng - tăng 25,5%.

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 8.816 tỷ đồng.

- Chi ngân sách nhà nước địa phương: 5.067 tỷ đồng.

3.2. Các chỉ tiêu về xã hội

- Mức giảm tỷ suất sinh trong năm: 0,25‰.

- Tạo việc làm mới trong năm: 26.000 lao động.

- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề: 37,5%.

- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới quốc gia: 8,5%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: < 10%.

- Số giường bệnh/10.000 dân: 24 giường.

- Tỷ lệ đô thị hóa: 50%.

- Tỷ lệ xã cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới: 50%.

3.3. Các chỉ tiêu về môi trường

- Tỷ lệ độ che phủ rừng: 43,5%.

- Tỷ lệ dân cư sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh: 93%.

Trong đó: Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: 90%.

4. Định hướng phát triển các ngành và các lĩnh vực

4.1. Công nghiệp

Khuyến khích, có chính sách để đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ tiên tiến và hiện đại hoá từng phần các ngành sản xuất công nghiệp để khai thác năng lực sẵn có, nhằm sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, giảm giá thành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu, đảm bảo tăng trưởng có chất lượng và hiệu quả, thực hiện hội nhập trong khu vực và quốc tế trong từng sản phẩm phù hợp với lộ trình giảm thuế đã cam kết (AFTA) và lộ trình gia nhập WTO.

Tăng cường khuyến khích sử dụng thiết bị tiết kiệm điện, có kế hoạch tiết giảm, tiết kiệm điện.

Kịp thời tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp về vốn, mặt bằng sản xuất, nguyên vật liệu… để đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng nhu cầu hàng hóa phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của đời sống nhân dân.

Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản phẩm công nghiệp, áp dụng công nghệ mới tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu. Chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ cung cấp nguyên phụ liệu, chi tiết cho các ngành công nghiệp khác nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá trong các sản phẩm phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần giảm nhập khẩu.

Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất các loại nguyên liệu, vật liệu thay thế hàng nhập khẩu và các ngành công nghiệp có tiềm năng.

Tập trung kiểm tra tiến độ, giải quyết các vướng mắc các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi để triển khai thi công và đưa vào khai thác sử dụng các dự án: Nhà máy xi măng Cam Ranh, Trạm phân phối xi măng Ninh Thuỷ, Nhà máy thủy diện Sông Giang, Nhà máy nước yến cao cấp Cam Ranh; tích cực phối hợp chuẩn bị các thủ tục đầu tư các dự án: Tổ hợp lọc hoá dầu Petrolimex, Khu công nghệ cao Vạn Thắng, Nhà máy nhiệt điện Sumitomo; hỗ trợ tích cực, tháo gở khó khăn thuộc thẩm quyền để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đóng mới tàu thủy của nhà máy Huyndai Vinashin…

Thực hiện chuẩn bị đầu tư và đầu tư cơ sở hạ tầng các cụm công nghiêp như: Ninh Xuân, Sông Cầu, Tân Lập…để thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt bằng sản xuất kinh doanh.

Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm chống hàng nhái, hàng giả đảm bảo công bằng và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế trong tỉnh.

Tăng cường công tác quản lý thị trường, trong đó triển khai thực hiện tốt việc chống buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chống các hành vi gian lận thương mại, kinh doanh trái pháp luật, kiểm soát giá cả, niêm yết giá và bán theo giá niêm yết, việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá, không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động thị trường để đầu cơ, nâng giá nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng.

Tăng cường hơn nữa việc thực hiện công tác khuyến công để khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu hút nhiều lao động nông thôn vào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương trong tỉnh.

4.2. Nông, lâm, thủy sản

Tập trung đầu tư thâm canh, tạo điều kiện tăng năng suất và sản lượng một số cây có diện tích sản lượng lớn theo hướng duy trì ổn định diện tích lúa, sử dụng các giống lúa có năng suất cao để nâng cao năng suất lúa ở các huyện miền núi.

Ổn định đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp đối với các nhóm mặt hàng chủ lực như lúa, thủy sản,.. có ảnh hướng lớn đến tăng trưởng nông nghiệp, đến thu nhập và đời sống của người nông dân.

Phát triển nguồn nhân lực, tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí quy định.

Tổ chức lại sản xuất khai thác thuỷ sản theo hướng hạn chế khai thác ven bờ, huy động các nguồn và hỗ trợ nhà nước để đầu tư cho đóng mới tàu khai thác xa bờ, gắn khai thác với bảo quản để tiết kiệm nguồn lợi, nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm, gắn sản xuất với tiêu thụ ổn định, đạt hiệu quả kinh tế cao, đồng thời góp phần tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển.

Tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, chế biến lâm sản, nhất là hàng lâm sản xuất khẩu, phát triển mạnh trồng rừng kinh tế chất lượng và hiệu quả cao.

Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiêp, nông thôn.

Tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể phát triển hợp lý, bền vững. Phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX, tổ hợp tác. Góp phần hỗ trợ giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho xã viên và phát triển cộng đồng. Phấn đấu để thu nhập từ HTX phải là nguồn thu nhập chính của xã viên và người lao động.

4.3. Du lịch - Thương mại - Xuất nhập khẩu

Tiếp tục thực hiện quy hoạch ngành Du lịch đến năm 2020 đã được duyệt làm cơ sở để phát triển mạnh du lịch trong thời gian tới. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng ở các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như khu bán đảo Cam Ranh, khu Vân Phong để thu hút các nguồn vốn đầu tư, phát triển các khu vui chơi giải trí, tăng cường nhiều loại hình du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch biển đảo, tham quan khu bảo tồn thiên nhiên biển, tăng cường công tác quảng bá, bảo đảm môi trường du lịch ... nhằm thu hút khách du lịch và các tour du lịch quốc tế, tăng tỷ lệ ngày khách quốc tế. Tổ chức các lễ hội, giao lưu văn hoá, thể thao, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, kéo dài ngày lưu trú của du khách tại tỉnh.

Đẩy mạnh việc sắp xếp và quản lý mạng lưới chợ, xăng dầu theo quy hoạch. Thu hút các dự án đầu tư xây dựng các chợ mới qua đó góp phần bình ổn giá cả thị trường. Tăng cường quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ, vừa bảo đảm lưu thông, vừa thực hiện kiểm tra, kiểm soát, xử lý kịp thời những hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, buôn lậu, làm hàng giả.

Tiếp tục tìm kiếm thị trường, đối tác để liên doanh sản xuất và tiêu thụ hàng xuất khẩu. Đổi mới công nghệ, xây dựng sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO, hỗ trợ tín dụng đầu tư mở rộng năng lực cho các doanh nghiệp... nhằm từng bước hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo chương trình hội nhập chung của Chính phủ.

Khai thác có hiệu quả hoạt động chuyển tải dầu ở vịnh Vân Phong và  triển khai các hoạt động của Kho xăng dầu ngoại quan Vân Phong sau khi xây dựng xong vào năm 2011.

4.4. Quản lý quy hoạch và Quản lý đầu tư

Thực hiện điều chỉnh, bổ sung quy hoạch kinh tế xã hội tỉnh đến năm 2020 được Chính phủ phê duyêt; Tổ chức triển khai thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh giai đoạn 2011-2020.

Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chi tiết sử dụng đất cấp xã nhằm chuẩn bị mặt bằng cho các dự án đầu tư, ưu tiên quy hoạch đất cho các dự án xã hội hóa để đẩy mạnh công tác này.

Tăng cường công tác quản lý quy hoạch xây dựng và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án quy hoạch xây dựng trên địa bàn tỉnh, đặc biệt đối với các dự án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết 1/500 để đảm bảo yêu cầu khi thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư trên địa bàn tỉnh.; quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí quy định để có cơ sở xây dựng bộ mặt nông thôn ngày càng phát triển.

Trên cơ sở định hướng quy hoạch chung xây dựng của Khu kinh tế Vân Phong, quy hoạch chi tiết xây dựng 1/2000 (quy hoạch phân khu) tại khu bắc bán đảo Cam Ranh; tiếp tục hoàn chỉnh xây dựng quy hoạch chi tiết để thu hút nhanh các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng và kinh doanh tại hai khu vực này; ngoài ra cũng tiếp tục quy hoạch xây dựng chi tiết các khu dân cư tập trung, các khu du lịch theo quy hoạch để thu hút đầu tư.

4.5. Vốn đầu tư phát triển

Tiếp tục triển khai thực hiện đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm: vốn xây dựng cơ bản tập trung; vốn thu cấp quyền sử dụng đất; vốn trái phiếu Chính phủ; vốn các chương trình mục tiêu quốc gia và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu và vốn đầu tư cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vân Phong; vốn đầu tư ngoài nước; vốn đầu tư khác từ ngân sách nhà nước.

Do nguồn vốn đầu tư còn thấp so với nhu cầu chi đầu tư phát triển nên hướng bố trí các công trình theo các thư tự ưu tiên sau: trả nợ vay, trả nợ khối lượng đã thi công, vốn đối ứng ODA, đối ứng vốn để tiếp tục thực hiện Đề án đầu tư bệnh viện đa khoa tuyến huyện, tuyến tỉnh, đầu tư cho giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, các công trình chuyển tiếp về hạ tầng kinh tế xã hội của năm 2010 để phát huy hiệu quả sử dụng, giải phóng mặt bằng và các công trình trọng điểm, cấp bách khác.

Tiếp tục kiến nghị Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương cân đối vốn trái phiếu Chính phủ để thực hiện các dự án trọng điểm như: đường Cao Bá Quát - Cầu Lùng, chỉnh trị Sông Tắc và Sông Quán Trường, hệ thống thoát lũ từ cầu Phú Vinh đến đầu Sông Tắc, đường giao thông ngoài cảng trung chuyển Vân Phong, hồ chứa nước Đồng Diền, hồ chứa nước Sông Chò...

Có giải pháp để thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 3 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh; xây dựng các đề án huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vân Phong, khu vực Bắc Cam Ranh, khu vực phía tây Lê Hồng Phong. Trong đó, đặc biệt chú trọng các giải pháp và danh mục dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thu hút đầu tư và triển khai thi công một số dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn; khi các dự án này triển khai thực hiện sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh trong những năm tới.

Tiếp tục chú trọng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đi đôi với tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có lợi thế so sánh, có tiềm năng phát triển; khuyến khích đầu tư vào những ngành, sản phẩm áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, có hàm lượng công nghệ cao, đi đôi phát triển các ngành tạo nhiều việc làm.

Thu hút tối đa các nguồn vốn đầu tư tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,.. để chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả, phát huy lợi thế từng ngành, từng khu vực, từng sản phẩm; tăng cường trang thiết bị có công nghệ tiên tiến, hiện đại hóa từng phần các ngành sản xuất công nghiệp, trong đó ưu tiên đầu tư các ngành và sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh.

4.6. Thu chi ngân sách

Thực hiện tốt Luật Ngân sách và các Luật thuế hiện hành, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu, chống thất thu; đôn đốc thu thuế nợ đọng, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm về thuế. Tăng cường nộp thuế qua ngân hàng.

Quản lý và điều hành ngân sách đúng quy định, hiệu quả; triển khai thực hiện khoán biên chế và kinh phí hành chính đối với cấp xã; thực hiện nghiêm chế độ công khai tài chính ngân sách ở tất cả các cấp, các ngành và các đơn vị, tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, giám sát về tài chính ngân sách trên địa bàn. Thực hiện chính sách tiết kiệm ngân sách; tăng cường công tác kiểm tra đối với các doanh nghiệp công ích có thu.

4.7. Các lĩnh vực xã hội

Tiếp tục phát triển quy mô đào tạo ở tất cả các cấp, chú trọng phát triển quy mô đào tạo nghề; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, tăng cường đào tạo thông qua hợp đồng đào tạo; điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp. Triển khai xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế, xã hội chủ yếu và các khu vực kinh tế trọng điểm.

Thực hiện phổ cập mầm non 5 tuổi; duy trì phổ cập đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở. Triển khai một số chỉ tiêu phổ cập trung học phổ thông.

Xây dựng và triển khai thực hiện các đề án: Đề án tăng cường cơ sở vật chất các trường tiểu học trong toàn tỉnh bảo đảm đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày (giai đoạn 2); Đề án xây dựng phòng học bộ môn ở các trường trung học; Đề án nhà vệ sinh trường học; Đề án bổ sung trang thiết bị dạy học cho các Trung tâm giáo dục thường xuyên; Đề án xây dựng mới trường chuyên; Đề án nâng cấp các trường phổ thông dân tộc nội trú; Quy hoạch mạng lưới trường lớp giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020.

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Mở rộng hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ và đầu tư nguồn lực của các tổ chức quốc tế, tiếp thu các thành tựu về khoa học và công nghệ và kinh nghiệm quản lý phục vụ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Tăng cường đào tạo y tế thôn, bản, trợ giúp đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số và các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa.

Khuyến khích phát triển y tế ngoài công lập. Tăng cường sự tham gia của hệ thống y tế ngoài công lập vào việc thực hiện các mục tiêu bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Nâng cao nhận thức vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đảm bảo mọi trẻ em được hưởng các dịch vụ y tế cơ bản và giáo dục có chất lượng.

Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục các chủ trương, chính sách, pháp luật dân số, kế hoạch hoá gia đình, gia đình và trẻ em, nhất là đối với vị thành niên, thanh niên và các đối tượng ở nông thôn, vùng miền núi.

Tạo điều kiện cho mọi gia đình tiếp cận được kiến thức pháp luật, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật và phúc lợi xã hội. Hoàn thiện cơ chế lồng ghép, phối hợp liên ngành trong công tác dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục trẻ em.

Thúc đẩy phong trào  thể dục thể thao, đặc biệt là thể thao quần chúng ở cơ sở. Chú trọng đầu tư và phát triển các môn thể thao thành tích cao có thế mạnh của tỉnh đủ sức tham gia các giải thể dục thể thao do trung ương và khu vực tổ chức.

Nghiên cứu cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Phát triển thể thao quần chúng, nhất là những môn được nhân dân yêu thích và tự nguyện tập luyên; phát triển thể thao phong trào, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên.

Thực hiện tốt các công tác đền ơn đáp nghĩa như: chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đỡ đầu con liệt sỹ và con thương, bệnh binh nặng; phong trào xây dựng nhà tình nghĩa; chăm lo cho các đối tượng chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống  trung bình của người dân địa phương.

Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm thoát nghèo bền vững, thực hiện dạy nghề cho người nghèo, đào tạo các bộ làm công tác giảm nghèo, hoạt động truyền thông giảm nghèo. Thực hiện tốt công tác cứu trợ xã hội và các chính sách dành cho người nghèo, kết hợp dạy nghề, tạo việc làm được nhân rộng cho các địa phương, góp phần thiết thực đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo.

Đẩy mạnh đào tạo nghề, chú trọng đào tạo nghề phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá; triển khai có hiệu quả đề án dạy nghề cho lao động nông thôn; dạy nghề phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, tăng cường dạy nghề cho lao động bị thu hồi đất do công nghiệp hoá, đô thị hoá và lao động xuất khẩu.

Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước; tranh thủ sự giúp đỡ và đầu tư từ nguồn vốn ODA, nguồn vốn Trung ương. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các hoạt động, các dự án, nhiệm vụ công nghệ thông tin, từng bước tin học hóa công tác quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn ngành, lĩnh vực, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo và điều hành của các cấp chính quyền, đảm bảo cung cấp các dịch vụ hành chính công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao công tác cải cách hành chính.

Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bưu chính viễn thông, đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội, góp phần phục vụ công tác phòng chống lụt bão, an ninh quốc phòng. Tiếp tục triển khai các dịch vụ viễn thông công ích về các vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.

Phát triển đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin ở các khu vực nhà nước, doanh nghiệp và xã hội (dân chúng); trong đó ưu tiên tập trung nguồn nhân lực phát triển ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ cải cách thủ tục hành chính, làm động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

4.8. Bảo vệ môi trường bền vững

Thực hiện các chương trình quan trắc môi trường, lắp đặt các trạm quan trắc môi trường tự động. Nghiên cứu, ứng dụng một số mô hình giải quyết các vấn đề môi trường, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ xử lý chất thải vào công tác quản lý môi trường tại địa phương.

Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường, đào tạo tập huấn chuyên môn quản lý về bảo vệ môi trường. Triển khai các hoạt động phối hợp bảo vệ môi trường giữa Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, các ngành liên quan cấp tỉnh, cấp huyện với cơ quan quản lý môi trường; nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho tất cả các đối tượng trong xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và có biện pháp để bảo vệ môi trường ở từng khu dân cư, các cơ sở sản xuất kinh doanh, ở các nơi công cộng…

4.9. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch vững mạnh

Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Tiếp tục cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp và xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh. Loại bỏ các thủ tục không cần thiết gây phiền hà khi giải quyết công việc của dân và doanh nghiệp. Hệ thống hoá các quy định về các thủ tục đối với từng loại công việc, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng; đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu lực và hoàn thiện mô hình “một cửa liên thông”, thực hiện trên hầu hết các cơ quan công quyền chủ yếu của tỉnh và các huyện, bảo đảm giải quyết các yêu cầu của dân. Tiếp tục phân cấp cho chính quyền cấp huyện và xã giải quyết các thủ tục liên quan trực tiếp đến công việc hàng ngày của dân.

Chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành chính nhằm tạo sự chuyển biến tích cực đối với bộ máy hành chính. Các cơ quan hành chính nhà nước phải xây dựng văn hoá lãnh đạo và quản lý, văn hoá nơi công sở, trước hết là trách nhiệm và thái độ ứng xử khi giải quyết công việc của dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ. Bảo đảm tính công khai minh bạch và tăng cường sự kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan hành chính, nhất là mối quan hệ với dân.

4.10. Về phòng chống tham nhũng

Tổ chức tốt việc thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình hành động phòng chống tham nhũng. Xử lý nghiêm khắc những hành vi lợi dụng chức quyền để tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí tài sản và tiền vốn của nhà nước.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hệ thống hành chính nhà nước, trong đó công khai các quy định về các thủ tục hành chính để dân biết được xem là một biện pháp quan trọng.      

4.11. Công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Phát triển kinh tế kết hợp với xây dựng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng năm 2011.

Nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chủ động đối phó trong mọi tình huống. Tiếp tục xây dựng và củng cố khu vực phòng thủ huyện, thị xã, thành phố.

Tiếp tục có các biện pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông và hạn chế tai nạn giao thông. Tăng cường trấn áp các loại tội phạm; ngăn chặn, phòng ngừa, kiểm tra, xử lý, ngăn chặn các tệ nạn xã hội./.

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

 

Võ Lâm Phi



Số ký hiệu: 172/BC-UBND
Ngày phát hành: 01/12/2010
Loại văn bản: Văn bản khác
Lĩnh vực: Kế hoạch - Quy hoạch
Số Công Báo: 51 + 52
Năm Công Báo: 2010
Tập tin đính kèm (Văn bản chính và phụ lục):     



"Văn bản pháp luật đăng trên Công báo là văn bản chính thức và có giá trị như bản gốc. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa Công báo in và Công báo điện tử thì sử dụng Công báo in làm căn cứ chính thức."(trích Điều 7, nghị định 100/2010/NĐ-CP ngày 28/09/2010 của Chính phủ về Công báo)
Văn bản quy phạm pháp luật
Hình ảnh Khánh Hòa
Liên kết web